Trong hai ngày 17-18/7, tại Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế) và Đại học Cần Thơ tổ chức Hội thảo khoa học Quản lý đất đai toàn quốc lần thứ IV với chủ đề "Khơi thông nguồn lực đất đai trong kỷ nguyên số".
Hội thảo nhằm đưa ý kiến tâm huyết của các nhà khoa học, các chuyên gia, nhà quản lý hoàn thiện chính sách pháp luật đất đai trong bối cảnh Chính phủ đang tập trung tổng kết Nghị quyết 18 của Ban Chấp hành Trung ương, sửa đổi Luật Đất đai 2024 và sau một năm thực hiện mô hình chính quyền hai cấp.
Quản trị đất đai theo hướng hiện đại, số hóa, minh bạch, liên thông
Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhấn mạnh, để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển bền vững thì đất đai phải được khai thác, quản lý, sử dụng, quản trị và bảo vệ một cách khoa học và hợp lý. Mặt khác, cần phải sử dụng hiệu quả các công cụ để làm gia tăng giá trị sử dụng đất, vừa để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng vừa tạo được nguồn thu ngân sách lớn, ổn định và bền vững.
    |
 |
| GS.TS. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Mai Đan |
Do vậy việc đổi mới chính sách đất đai và sử dụng hiệu quả các công cụ thực thi chính sách như đăng ký, quy hoạch đất đai, tài chính đất đai khoa học công nghệ… là vô cùng cấp thiết. Bên cạnh đó, để nâng cao nguồn lực quản lý đất đai cho sự phát triển kinh tế xã hội cần phải đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
"Để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển bền vững thì đất đai phải được khai thác, quản lý, sử dụng, quản trị và bảo vệ một cách khoa học, hợp lý. Mặt khác, cần phải sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý để làm gia tăng giá trị sử dụng đất, vừa để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa tạo được nguồn thu ngân sách lớn, ổn định và bền vững, đảm bảo an ninh, quốc phòng. Do vậy việc đổi mới chính sách đất đai và sử dụng hiệu quả các công cụ thực thi chính sách là rất cần thiết để nâng cao nguồn lực quản lý đất đai cho sự phát triển kinh tế - xã hội", GS.TS Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh.
GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng, để đóng góp nguồn lực đất đai trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thì đào tạo nguồn lực con người có ý nghĩa then chốt, quyết định. Học viện Nông nghiệp Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành cùng với các trường đại học, các doanh nghiệp trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành Quản lý đất đai, Tài nguyên và môi trường cho đất nước.
Theo ông Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt, là tài sản quan trọng của quốc gia, là đầu vào của phát triển, không gian của sinh kế, nền tảng của an ninh, quốc phòng và là nguồn lực lớn cho tăng trưởng bền vững.
    |
 |
| Ông Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Mai Đan. |
Trong những năm qua, hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai đã từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều "điểm nghẽn" vẫn tồn tại, từ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến công tác giao đất, cho thuê đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, định giá đất và thị trường quyền sử dụng đất…
Theo ông Khải, trong bối cảnh chuyển đổi số và cải cách bộ máy hành chính, quản lý đất đai cần chuyển mạnh từ quản lý đất đai theo phương thức hành chính truyền thống sang quản trị đất đai hiện đại, số hóa, minh bạch, liên thông và lấy hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp, Nhà nước làm trung tâm. Muốn vậy, đất đai phải được điều tra, quy hoạch, định giá, sử dụng, giám sát và bảo vệ trên nền tảng dữ liệu tin cậy và công cụ quản lý tiên tiến.
Quy hoạch sử dụng đất giúp đánh giá tiềm năng đất đai, dự báo nhu cầu, lựa chọn phương án phân bổ và xác lập giới hạn sử dụng đất cho từng ngành, lĩnh vực. Đây không đơn thuần là việc chia chỉ tiêu diện tích mà là quá trình lựa chọn giữa các mục tiêu cạnh tranh nhằm tối ưu hóa lợi ích tổng thể và dài hạn (FAO, 1993).
Quy hoạch sử dụng đất quốc gia giữ vai trò xác định những cân đối có ý nghĩa chiến lược như đất trồng lúa, các loại đất rừng, đất quốc phòng và đất an ninh. Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh tiếp tục cụ thể hóa các chỉ tiêu quốc gia, đồng thời cân đối nhu cầu đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 1177/QĐ-TTg ngày 30/06/2026 tiếp tục khẳng định vai trò của quy hoạch sử dụng đất trong việc phân bổ nguồn lực đất đai đáp ứng yêu cầu phát triển mới (Thủ tướng Chính phủ, 2026).
Quy hoạch sử dụng đất tạo không gian phát triển
Theo PGS.TS. Trần Trọng Phương, Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, quy hoạch sử dụng đất không chỉ trả lời câu hỏi cần bao nhiêu đất cho từng mục đích mà còn phải trả lời đất được bố trí ở đâu. Hiệu quả sử dụng đất phụ thuộc rất lớn vào vị trí, khả năng kết nối, điều kiện tự nhiên, môi trường, nguồn lao động, hạ tầng và quan hệ với các khu vực xung quanh.
    |
 |
| PGS.TS. Trần Trọng Phương, Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng đổi mới công nghệ và tổ chức hành chính là chìa khóa nâng cao hiệu quả quản lý đất đai bền vững. Ảnh: Mai Đan. |
Cùng một chỉ tiêu đất công nghiệp nhưng nếu được bố trí gắn với hệ thống giao thông, đô thị, nguồn nhân lực và hạ tầng xử lý môi trường thì có thể tạo ra hiệu quả kinh tế cao. Ngược lại, nếu bố trí phân tán, xa hạ tầng hoặc xâm lấn khu vực sinh thái nhạy cảm thì chi phí xã hội và môi trường có thể lớn hơn lợi ích thu được.
Quy hoạch sử dụng đất xác định những khu vực được phép chuyển đổi, những khu vực cần hạn chế và những khu vực phải bảo vệ nghiêm ngặt. Thông qua đó, Nhà nước kiểm soát quá trình chuyển đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp, chuyển đất rừng, đất trồng lúa và các loại đất có giá trị sinh thái sang mục đích phát triển. Kiểm soát chuyển mục đích cũng là cơ sở để hạn chế phát triển tự phát, đầu cơ theo thông tin quy hoạch, sử dụng đất không đúng mục đích và phân tán nguồn lực đầu tư.
PTS.TS Trần Trọng Phương kiến nghị, phải xem quy hoạch sử dụng đất là một bộ phận quan trọng trong thực hiện phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong thiết kế hệ thống quy hoạch lâu dài, cần tiếp tục duy trì quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và chức năng quy hoạch sử dụng đất chi tiết tại cấp xã.
Đối với cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất cần tiếp tục tồn tại như một quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành hoặc một hợp phần bắt buộc, có giá trị pháp lý tương đương trong quy hoạch tỉnh.
Đối với cấp xã, cần có công cụ thể hiện đầy đủ hiện trạng, chỉ tiêu, vị trí, ranh giới, phương án chuyển đổi và tiến độ sử dụng đất. Công cụ này có thể được tổ chức dưới hình thức quy hoạch sử dụng đất cấp xã độc lập hoặc hợp phần sử dụng đất bắt buộc trong quy hoạch chung xã.
Chia sẻ một số kết quả và kinh nghiệm thực tiễn sau một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường tại tỉnh Ninh Bình, TS.Nguyễn Tuấn Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình cho biết, một trong những nội dung trọng tâm trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp là tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương phân cấp, phân quyền theo hướng bảo đảm rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, phù hợp với năng lực thực thi của từng cấp chính quyền, đồng thời tăng cường tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của cấp cơ sở.
Để việc phân cấp, phân quyền được triển khai thống nhất và hiệu quả, Sở đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ trên các lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đối với UBND cấp xã; kịp thời hướng dẫn quy trình thực hiện, giải đáp những nội dung mới phát sinh, góp phần giúp chính quyền cơ sở nhanh chóng tiếp cận nhiệm vụ, hạn chế cách hiểu và cách thực hiện không thống nhất trong giai đoạn đầu triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Ninh Bình cũng thường xuyên rà soát, đánh giá tính khả thi của các nhiệm vụ, thẩm quyền đã được phân cấp, phân quyền; kịp thời tham mưu điều chỉnh, đề xuất phương án xử lý đối với những nhiệm vụ không còn phù hợp hoặc vượt quá khả năng thực hiện của cấp xã, như: một số thủ tục liên quan đến đất đai, môi trường đòi hỏi chuyên môn sâu, hệ thống dữ liệu đồng bộ và điều kiện kỹ thuật cao. Bên cạnh đó, Sở đã chủ động rà soát, tổng hợp các nội dung còn chồng chéo, chưa rõ thẩm quyền hoặc chưa được phân cấp đầy đủ để kiến nghị các bộ, ngành Trung ương tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thành lập vào năm 1956, và tháng 10 năm nay tròn 70 năm xây dựng và phát triển; khoa Tài nguyên và Môi trường của Học viện tròn 50 năm thành lập. Học viện có gần 1.500 cán bộ với trên 360 tiến sỹ, hơn 100 Giáo sư, Phó giáo sư.
Học viện có 13 Khoa chuyên môn, 30 Viện/Trung tâm nghiên cứu/Công ty, 82 mô hình khoa học và công nghệ. Đối với riêng lĩnh vực Quản lý đất đai, Tài nguyên môi trường. Trong gần 70 năm qua, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã đào tạo cho đất nước trên 14.000 kỹ sư ngành Quản lý đất đai; trên 1200 kỹ sư ngành Nông hoá thổ nhưỡng; trên 2600 cử nhân ngành Khoa học môi trường. Sau Đại học ngành Quản lý đất đai và Khoa học môi trường, Học viện đã đào tạo trên 3500 thạc sĩ, 121 tiến sĩ. |
https://danviet.vn/