Trong ký ức của GS. Trần Đức Viên, hành trình 70 năm Học viện Nông nghiệp Việt Nam luôn gắn với đồng ruộng, người nông dân và khát vọng phụng sự.

Những giảng đường tranh tre, mái lá ở Quỳnh Đô, Thanh Trì năm nào mở đầu câu chuyện về Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ngày 12/10/1956, Trường Đại học Nông Lâm, tiền thân của Học viện, ra đời giữa những năm tháng gian lao tái thiết miền Bắc.

GS.TS.NGND. Trần Đức Viên, nguyên Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam mong sinh viên nuôi dưỡng ước mơ, dám dấn thân, làm nông nghiệp tử tế và có trách nhiệm. Ảnh: Mai Đan.

Bảy thập kỷ sau, nhìn lại mái trường ấy, GS.TS.NGND. Trần Đức Viên, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp I, nguyên Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo nhắc nhiều đến sự gắn bó giữa thầy trò và người nông dân.

Với ông, đó là mạch nguồn xuyên suốt lịch sử nhà trường, qua chiến tranh, đổi mới và hội nhập, qua những chuyến thực địa và công trình phục vụ sản xuất.

Những giảng đường đi cùng năm tháng

Trong câu chuyện ông kể, có những lớp học thời sơ tán tại Cao Bằng, có thế hệ thầy trò vừa học, vừa gặt lúa dưới bom đạn tại tuyến lửa Nghệ An những năm 1967-1968. Năm 1971, khoảng 2.000 thầy trò tham gia chống vỡ đê Cống Thôn. Khi đất nước cần, họ rời giảng đường để góp sức.

Theo GS. Trần Đức Viên, 2.567 sinh viên đã gác bút nghiên lên đường ra chiến trường. Tinh thần ấy được ghi nhớ qua tượng đài “Tiền tuyến gọi, chúng tôi sẵn sàng”, tri ân những người mang tuổi trẻ đáp lời Tổ quốc.

Sau ngày đất nước thống nhất, hàng nghìn sinh viên, giảng viên lại lên đường điều tra thổ nhưỡng, lập quy hoạch nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và các vùng sinh thái khác. Những miền quê trở thành nơi thực hành kiến thức, cũng là nơi thầy trò học thêm từ cuộc sống.

Qua 70 năm, Học viện đã đào tạo hơn 150.000 kỹ sư, cử nhân, hơn 15.000 thạc sĩ và gần 800 tiến sĩ. Ảnh: NTCC.

Ông nhắc tinh thần “Đi dân nhớ, ở dân thương” để nói về nghĩa tình qua những chuyến đi. Đến với bà con bằng kiến thức, người làm khoa học mang về những câu hỏi từ đồng ruộng và kinh nghiệm mà sách vở chưa thể nói hết.

Mối gắn bó ấy hiện diện trong đóng góp của nhiều thế hệ nhà khoa học. GS. Lương Định Của, GS. Bùi Huy Đáp cùng các bậc tiền bối để lại dấu ấn trong nghiên cứu, đào tạo và phục vụ sản xuất. Tên tuổi của họ được ghi nhớ qua thư viện, giảng đường, quảng trường và các công trình tri ân.

Trong gần 10 năm lãnh đạo, GS. Trần Đức Viên trải qua nhiều quyết định làm thay đổi nhà trường. Năm 2014, việc chuyển cơ quan chủ quản về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khôi phục tên gọi Học viện Nông nghiệp Việt Nam tạo thêm điều kiện gắn đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn ngành.

Năm 2015, Học viện thực hiện tự chủ toàn diện. Theo ông, đổi mới quản trị giúp nhà trường chủ động tạo dựng nguồn lực, đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đội ngũ. Những công trình mới là kết quả của quá trình kiên trì chuẩn bị, trong đó quy hoạch chi tiết được theo đuổi suốt bảy năm.

Việc chuẩn bị đội ngũ chú trọng giảng viên trẻ. Gần 200 cán bộ được cử vào TP.HCM học tiếng Anh trong sáu tháng, tạo nền tảng tìm học bổng và học tập ở nước ngoài. Nhà trường cũng khuyến khích công bố quốc tế, tiếp thu phương pháp nghiên cứu và kiến thức tiên tiến.

Gắn bó với đồng ruộng, Học viện đồng thời mở rộng cánh cửa ra thế giới. Theo GS. Trần Đức Viên, việc đưa giảng viên tới các đại học danh tiếng, tiếp cận học bổng quốc tế và khuyến khích công bố khoa học đã góp phần cải thiện năng lực nghiên cứu. Các chuyên khảo của ông và cộng sự được xuất bản tại những nhà xuất bản danh tiếng của Đại học Kyoto (Nhật Bản), UC Berkeley (Hoa Kỳ), cùng các công bố trên hệ thống Springer; giống lúa lai CT16 được ứng dụng trên đồng đất Cuba. Thành quả khoa học Việt Nam cũng vượt ra ngoài biên giới.

Khoa học “lớn lên” cùng người nông dân

Trong hơn 45 năm làm khoa học của GS. Trần Đức Viên, những tháng ngày nghiên cứu cùng cộng đồng luôn có ý nghĩa đặc biệt. Ông nhớ công trình thực địa với người Đan Lai tại vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An), khi chính quyền có ý định di dời bà con vì cho rằng họ làm suy thoái rừng.

GS.TS Trần Đức Viên cùng nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát và kỹ sư Hồ Quang Cua nghiên cứu thực địa tại Sóc Trăng, năm 2024. Ảnh: NVCC.

Ông cùng cộng sự dành nhiều tháng tìm hiểu đời sống, phương thức canh tác của người dân. Theo ông, nghiên cứu cho thấy, khi mật độ dân cư còn thấp, cách canh tác ấy không gây tổn hại cho rừng như nhận định ban đầu.

Nhóm kiến nghị giao quyền quản lý, giám sát rừng cho cộng đồng, đồng thời đưa tiến bộ kỹ thuật tới bà con. Trải nghiệm ấy củng cố niềm tin của ông rằng bảo vệ tài nguyên phải gắn với sinh kế, tôn trọng văn hóa và tri thức của người dân.

“Bà con chính là người thầy vĩ đại của chúng ta”, ông luôn nhắc học trò. Nông dân có kho kinh nghiệm tích lũy qua nhiều mùa vụ. Muốn giúp họ, nhà khoa học trước hết cần lắng nghe, hiểu những khó khăn thực tế.

Sự tiếp nối giữa nghiên cứu và sản xuất thể hiện qua các giống lúa lai VL20, TH3-3, cà chua lai mang thương hiệu HT, công nghệ khí canh và đệm lót sinh học. Mỗi thành tựu được ứng dụng là một lời giải cho nhu cầu thực tế.

Ông nhắc dấu mốc giống lúa lai hai dòng TH3-3 của Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Trâm được chuyển nhượng bản quyền với giá hơn 10 tỷ đồng năm 2007. Với ông, kết quả được nông dân, doanh nghiệp đón nhận là sự ghi nhận thiết thực đối với người làm khoa học.

Bởi vậy, ông đề nghị lấy hiệu quả sinh kế và giá trị gia tăng làm thước đo nghiên cứu. Đề tài cần “nảy mầm” từ thực tiễn: dịch bệnh, suy thoái đất, tổn thất sau thu hoạch hay yêu cầu chất lượng của thị trường. Nhà khoa học cần cùng nông dân thử nghiệm, phát hiện, điều chỉnh giải pháp kỹ thuật và công nghệ ngay trong sản xuất.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo quốc tế AgriVision 2026 do Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức ngày 8/10, kết nối tri thức và hợp tác vì nền nông nghiệp tương lai. Ảnh: Mai Đan.

Ở chặng đường mới, Học viện còn cần giúp nông dân làm chủ công nghệ, quản lý sản xuất và tiếp cận thị trường bằng công nghệ thời 4.0. Tri thức chuyển giao cần giúp người sử dụng tự lựa chọn và quyết định.

Điều đó cũng đặt ra yêu cầu với sinh viên. Theo GS. Trần Đức Viên, kiến thức kỹ thuật có thể nhanh chóng thay đổi, nhưng tư duy khoa học, khả năng tự học và trách nhiệm sẽ theo người học lâu dài. Chuyên môn cần đi cùng hiểu biết về công nghệ số, bảo quản, chế biến, kinh tế và ngoại ngữ.

Nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Học viện, ông gửi tới thế hệ trẻ lời nhắn: “Đừng bao giờ làm việc một cách hời hợt, nửa vời”. Ông mong sinh viên nuôi dưỡng ước mơ, dám dấn thân, làm nông nghiệp tử tế và có trách nhiệm.

Những giảng đường mái lá đã thuộc về lịch sử. Nhưng câu hỏi khi người học bước ra đồng ruộng vẫn còn nguyên ý nghĩa: tri thức của mình sẽ giúp được gì cho bà con? Câu trả lời ấy sẽ được thế hệ trẻ viết tiếp bằng những mùa vụ, công trình và việc làm có ích.

Qua 70 năm, Học viện đã đào tạo hơn 150.000 kỹ sư, cử nhân, hơn 15.000 thạc sĩ và gần 800 tiến sĩ. Các thế hệ người học làm việc trong cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và nhiều vùng sản xuất.

Mai Đan

https://nongnghiepmoitruong.vn/